NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỜI TÔI

 

 

af16Tôi may mắn được rất nhiều người phụ nữ thương yêu, bảo bọc. Mỗi bước đi trong cuộc đời mình đều có bóng dáng hoặc của người này hoặc của người kia. Nhưng để lại dấu ấn sâu đậm và ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với tôi đến thời điểm này, chỉ có một vài người. Trong đó, người phụ nữ vĩ đại nhất, người phụ nữ mà tôi tôn kính nhất là mẹ tôi …

MẸ TÔI

Năm 1975, đất nước thống nhất. Cha tôi đã mất trước đó hai năm. Chỗ dựa vững chắc nhất cả về vật chất lẫn tinh thần của mẹ không còn nữa. Mẹ tôi suy sụp hẳn và nơi có thể cứu rỗi, mảnh đất để mẹ có thể bấu víu, gửi gắm chính là quê hương.

Nhưng khi biết mẹ tôi có ý định hồi hương, bà con bên nội ở miền Nam lúc ấy cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Người thì gật gù vì dù sao cũng có người chăm sóc, giữ gìn mảnh đất hương hoả của cha ông. Trong khi đó, người lại tỏ ra ái ngại cho hoàn cảnh mẹ goá con côi của gia đình tôi khi phải đối mặt với những khó khăn, thử thách nơi quê nhà.

Cuối cùng, không lay chuyển được quyết định của mẹ, chú Tư tôi bèn đưa ra một giải pháp chia sẻ: Giữ tôi ở lại với chú. Đó là giải pháp mà có thể giúp tôi tiếp tục được đến trường, cuộc sống dễ chịu hơn và không phải đương đầu với những cam khó ở quê hương. Nhưng trong khi mẹ tôi đồng ý thì tôi giãy nảy lên như đĩa phải vôi:

- K – Không, con không ở với chú ! Tôi cự tuyệt đặc ân này.

Tôi sợ bị ở lại đến mức đêm trước ngày về quê, tôi đã thức trắng trong khi tay vẫn giữ chặt bâu áo của mẹ (!). Cái ý thức non nớt của đứa trẻ 7 tuổi dường như chỉ biết khư khư giữ lấy mối dây tình cảm mẹ con, mặc dù nếu ở lại miền Nam có thể tôi đã có một cuộc sống không phải dữ dội như sau này về quê.

Thế là, mẹ và 4 chị em tôi(anh Hai tôi ở lại Biên Hoà với gia đình chú Tư) dắt díu nhau rời Bình Dương qui cố hương Quảng Trị, sau hơn 20 năm tha phương cầu thực.

*

* *

Đêm đầu tiên trở về quê hương, chúng tôi phải ở nhờ nhà của một người bác họ. Tình cảnh “ăn nhờ ở đậu” này còn kéo dài đến một tuần sau đó, vì đơn giản chúng tôi chưa có ngôi nhà để chui vào chui ra. Nhưng làm sao có được ngôi nhà, trong khi mẹ tôi về quê dường như chỉ với hai bàn tay trắng ?

Chuyện tưởng nan giải hoá ra cũng được giải quyết ổn thoả. Bà con láng giềng góp mỗi người một ít vật liệu, người tấm tranh lợp, kẻ cây tre, nuộc lạt…Người không có của thì góp công. Chỉ hai ngày sau, ngôi nhà đã hình thành và mẹ con tôi đã có nơi che mưa che nắng thực sự, mặc dù chỉ là nhà tranh vách đất đúng nghĩa. Từ đây, tôi hiểu rằng những cảm giác háo hức ban đầu trên đường về quê đều tan biến và chúng tôi bắt đầu đối diện với những khó khăn chồng chất ở phía trước…

Khó khăn trực diện nhất đối với bản thân tôi là chuyện học hành. Chị Ba và anh trai kế tôi đành phải “xếp bút nghiên” để đỡ đần mẹ, cô em út còn nhỏ, chỉ có duy nhất tôi là được tiếp tục cắp sách đến trường. Tôi biết phải để chị Ba và anh Tư nghỉ học, mẹ tôi đau lòng lắm nhưng đó là chọn lựa bắt buộc trong điều kiện cực kỳ khó nghèo lúc bấy giờ. Một lần không kìm nén được cảm xúc, mẹ sụt sùi cầm tay anh trai tôi nói như người hối lỗi:

- M- Má đã không giữ được lời hứa với ba con lúc sinh thời(cho các con được học hành tới nơi tới chốn). Nhưng má cũng không biết phải làm sao nữa, con thông cảm cho má…

Thành ra, tôi là người hạnh phúc nhất. Tuy nhiên, mọi chuyện lại không suôn sẻ như tôi vẫn tưởng. Ngày nào đến trường về tôi cũng nước mắt ngắn nước mắt dài, quần áo xốc xếch, mặt mày lấm lem. Số là cái lớp 3 tôi học, chỉ có duy nhất tôi là người nước…Nam, trong khi cô giáo lại sở hữu một giọng nói “đặc sản” Quảng Bình miền ngược . Chính vì thế mà giữa trò và trò, giữa cô và trò xảy ra bất đồng ngôn ngữ ghê gớm. Tôi nói thì lũ bạn và cô giáo không hiểu, ngược lại đám bạn nói thì tôi lại chẳng biết mô tê gì cả. Đặc biệt, khi cô giảng bài, tôi không tài nào hiểu được. Biết chết liền ! Có những phương ngữ mà tôi cam đoan rằng nếu nghe qua các bạn cũng hoàn toàn mù tịt như nước đổ đầu vịt. Ví dụ như: “Con cấy hoong ló ngoài cưi bỗ trợt trúc cúi, văng lịp”. Trời ạ, nếu không được dịch ra như thế này thì người “Nước Nam” làm sao hiểu nổi: “Đứa con gái đang phơi lúa ngoài sân thì bị té ngã, trầy đầu gối và văng cả…nón” (!) Đã vậy, vì là người “Nước Nam” duy nhất giữa một rừng trọ trẹ nên tôi luôn là mục tiêu chọc ghẹo của lũ bạn. Hết “Dân Nam kỳ ăn cóc ăn nhái” đến “Thằng Sài Gòn láu cá ba que”…Ôi thôi, mọi thứ xấu xa của người “Nước Nam” mà chúng nghe được, chúng đều trút cả lên đầu tôi.

Trong hoàn cảnh như thế làm sao mà học ? Mẹ đành quyết định cho tôi nghỉ học hẳn 1 năm để học…tiếng(hehe) và thích ứng với những tập tục, sinh hoạt của người quê mình.

*

* *

Nhưng những trở ngại như thế chưa phải đã là thử thách thực sự đối với gia đình chúng tôi. Cái mảnh đất khó nghèo nhất của miền Trung lại càng thêm cùng cực trong những năm tháng cả nước đối mặt với khó khăn(cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80). Có thể nói 5 năm sinh sống ở quê là khoảng thời gian cơ hàn và khắc nghiệt nhất trong cuộc đời tôi. Lúc này nếu kể lại những chuyện thời bấy giờ, có lẽ nhiều người không khỏi ngờ vực. Thú thật đến bây giờ tôi cũng không sao hình dung được nhờ đâu mà mình và nhiều người lại có thể vượt qua được giai đoạn khủng khiếp ấy. Và chính qua đó mới nhận thấy thành quả của công cuộc đổi mới hôm nay thật hết sức vĩ đại.

Đám trẻ chúng tôi ngày ấy đi học nghèo khó đến mức kinh ngạc. Chiếc cặp đến trường chỉ là chiếc túi lác đơn sơ, chiếc nón che nắng che mưa cũng bằng lác, nhà đứa nào kha khá thì có được đôi dép cao su đã là sang, còn không thì cứ vô tư chân trần đến lớp mà chẳng hề ai có ý kiến gì ! Còn quần áo thì ôi thôi, hết sức đa dạng và phong phú. Gia đình nào có của có nả thì con cái đến trường có được tấm áo lành lặn, ngược lại vẫn phổ biến vá chằng vá đụp. Tất nhiên có lúc đến trường, tôi cũng phải diện cả bộ cánh được tận dụng từ vải…bao cát. Thậm chí có giai đoạn khó khăn quá, giấy tập (một loại giấy thếp đen xì, không đóng kim rất phổ biến thời ấy) viết qua rồi phải ngâm nước vo gạo hoặc nước vôi đem phơi khô sử dụng lại, khi viết cứ nhoè nhoẹt như gặp phải mưa sa ! Chao ôi, còn cái khoản mực viết mới bi đát làm sao. Chúng tôi vẫn phải hái trái mồng tơi giã nhuyễn rồi hoà với nước nóng chế biến thành mực. Đó là một loại mực tím kể ra cũng hết sức lãng mạn, nhưng nếu không siêng sắng thay nước thường xuyên, cái thứ của nợ ấy sẽ bốc mùi không thể ngửi nổi !

Hệ quả của thời bao cấp đã chi phối hết sức mạnh mẽ và nghiệt ngã đến thôn làng VN mà quê tôi là một điển hình. Người ta đói ngay trên ruộng lúa trĩu hạt của mình. Lao động chính như mẹ tôi mỗi ngày công chỉ được 3 lạng thóc(xin lưu ý là thóc, chứ không phải gạo). Anh trai tôi nhận chăn giữ thêm một con trâu của hợp tác xã để được trả mỗi tháng 1 thúng lúa. Tất nhiên chừng ấy thu nhập không sao nuôi đủ năm miệng ăn và vì vậy, bữa cơm hằng ngày vẫn thường trực một loại cháo rau tập tàng(một loại cháo nấu chủ yếu bằng rau lang, củ lang, các loại rau khác trong vườn nhà và một nhúm gạo) cầm hơi. Gia đình tôi hẳn nhiên nợ như chúa chổm, ngày nào cũng có vài chủ nợ kiên trì đến lỳ lợm đứng ở đầu hè đòi nợ(vì tài sản trong nhà 100% không có gì đáng giá 1 xu để xiết nợ). Nỗi nhục ấy cứ đeo đẳng tôi mãi tới sau này với một lời nguyền sắt đá: quyết không nợ nần ai và cũng không cho ai vay nợ !

Một dạo, nhà nhà lại ăn bo bo như một thứ lương thực chính:cơm bo bo, cháo bo bo, bánh cũng bo bo nốt. Cho đến bây giờ nhắc đến bo bo tôi vẫn còn rùng mình một nỗi ám ảnh: nhai bo bo miệt mài đến mức tôi bị viêm cả quai hàm, sưng to tướng như bệnh quai bị ! Cứ ngồi vào mâm cơm là nước mắt tôi lại ràn rụa, tức tưởi…Biết tính tôi kén ăn, hôm nào có được bữa cơm độn(còn gọi là khoai sắn độn cơm vì tỉ lệ cơm rất ít), mẹ lại nhặt ra hai chén cơm ròng, tôi một và con út một, còn lại mọi người vẫn trệu trạo nhai khoai sắn. Đương nhiên, những bữa cơm ròng ấy rất hiếm hoi và xa xỉ. Bấy giờ, tôi mới cảm nhận và thấm thía đầy đủ câu ngạn ngữ mà người quê gặp nhau thường chép miệng: Đói vàng cả mắt !

Mà đói thật. Trong những lúc ngặt nghèo, mẹ tôi phải đào cả gốc chuối sứ, gốc đu đủ nấu cho đàn con ăn thay cơm. Đến như vỏ củ sắn cũng được tận dụng xắt mỏng làm dưa muối nấu canh hay xào ăn cầm bữa. Thậm chí, phải lấy cả cám sàng sẩy bỏ đi lớp trấu, trước khi làm bánh ăn, mặc dù lảm xảm không dễ nuốt. Thi thoảng lại nghe ở xóm trên, làng dưới người ta trộm thóc, trộm sắn khoai bị du kích xã bắt.

- Nghe nói ở bên xóm Chùa có người chết vì ăn sắn trên độn (trên núi). Một tối cả nhà đang ngồi ăn khoai thì mẹ lên tiếng như muốn lưu ý chúng tôi hãy cẩn trọng.

-

Vì thiếu đất đai canh tác nên người làng tôi vẫn lên núi để khai khẩn vỡ đất trồng thêm hoa màu, mà chủ yếu là sắn(khoai mì). Nhưng vì đất mới nên sắn sau khi thu hoạch có vị đắng nồng rất khó ăn. Và chính vì thế mà đã có không ít vụ ngộ độc do ăn loại sắn này.

Trong những ngày nông nhàn, mẹ lại tất tả lội bộ hàng chục km lên chợ huyện mua chè xanh về rồi phân thành từng bó nhỏ bán dạo ở làng trên xóm dưới, để lấy lãi vài lon gạo đắp đổi qua ngày. Một hôm, lũ trẻ chúng tôi ở nhà đợi mãi đến sụp tối đã lâu rồi mà vẫn chưa thấy mẹ về.

-Lấy gạo ở đâu để nấu cơm ?

Sốt ruột, bồn chồn…tôi và con út ra tận đầu ngõ để chờ mẹ, nhưng vẫn bặt vô âm tín. Hai đứa tôi định quay vào thì nghe bước chân thậm thịch từ phía xa xa, rồi một bóng người đang cõng một hình hài rũ rượi trên vai lao về phía chúng tôi. Thì ra cả ngày hôm ấy dù đã đi khắp làng trên xóm dưới mẹ tôi vẫn không bán được bó chè nào. Nếu quay về mà không có gì cho đàn con thì không được, tình cờ khi ngang qua ruộng khoai vừa thu hoạch mẹ mới nảy ra ý định mót lấy vài củ về nấu ăn đỡ qua bữa. Nhưng không may gặp ruộng nước, cả ngày lội bộ đói và lại nhằm lúc chứng thấp khớp hành hạ, mẹ đã ngã quỵ luôn bên bờ ruộng. Cũng may gặp người làng đi làm đồng phát hiện mới đưa mẹ về kịp thời. Nếu không, không biết chuyện gì đã xảy ra.

Tối hôm đó, mẹ con chúng tôi chỉ biết ôm nhau khóc…

Có lẽ cũng vì quá bức bách mà một ngày nọ, mẹ đã phải làm một việc mà tôi biết mẹ đau đớn đến tột cùng. Một sáng, khi tôi chuẩn bị dắt trâu ra đồng thì như thường lệ không thấy chú chó Vá vẫn vẫy đuôi và ngúng nguẩy bên chân đâu cả. Tôi hốt hoảng thực sự và khi biết mẹ bán nó cho hợp tác xã để đổi lấy một thúng lúa, tôi đã điên loạn như thế nào. Tôi vật vã từ nhà ra tận ngoài đường, khóc lóc thảm thiết đến độ sống đi chết lại mấy lần. Con chó Vá ấy đối với tôi như một người bạn thực sự, còn tại sao lại là người bạn thì tôi sẽ thuật lại với các bạn sau. Qúa đau lòng trước thằng con… yêu chó, mẹ tôi phải gạt nước mắt lên hợp tác xã nài nì chuộc lại con chó cưng cho tôi.

Phản ứng đầy ích kỷ và thái quá của tôi lúc ấy cứ khiến tôi ân hận mãi nhiều năm sau này. Gíá như có được thúng lúa bấy giờ, gia đình tôi có lẽ đã không phải chông chênh hàng tháng trời và chắc chắn, nợ nần đã không chồng chất thêm.

Trở lại với sự nghiệp mục đồng chăn trâu của tôi ngày ấy cũng lắm éo le và đầy chuyện bi hài. Bình thường, nếu không đi học thì tôi đảm nhận việc chăn trâu, còn nếu đi học thì tôi chỉ phải trở thành mục đồng bán thời gian . Nhưng oái ăm ở chỗ, con trâu mà gia đình tôi trông giữ cho hợp tác xã lại là một con trâu chọi thực thụ. Nó được đặt tên là Chảng và do ở Đội sản xuất 15 nên người làng vẫn gọi là Chảng 15. Tên của nó thực sự gắn liền với tên của tôi, mà đến tận bây giờ tôi vẫn nổi tiếng ở làng là cũng nhờ “ăn theo” uy danh của nó. Nó có cặp sừng đen nhánh và cong vút, còn cái cổ mới to mộng làm sao. Cả thân hình đen trui trũi, hung hãn và oai vệ đến lẫm liệt. Nói đến khoản đánh nhau thì ai cũng nhìn nhận nó là số 1 ở làng và nhiều vùng lân cận. Nói không ngoa, có lần trên đường từ ruộng Sâu về, tôi đã chứng kiến nó nhấc bỗng cả một con trâu đực to tướng vật xuống kênh chổng vó chỉ bằng một động tác gọn nhẹ.

Nhưng chính vì nó là trâu chọi mà tôi đã phải bao phen khốn khổ với chú. Vì phải lánh mặt với nhiều trâu đối phương mà chế độ chăn giữ đối với nó cũng khác biệt: phải luôn luôn ăn kẹ(chăn thả trong môi trường chỉ có mình nó). Trong hoàn cảnh đó, nếu tôi không có một chú chó làm bầu bạn thì đúng là cô độc đến chết. Tôi và chú trâu chọi thường xuyên bị cách ly sống cách xa làng đến hàng chục km, buồn và đơn độc đến khủng khiếp.

Có lần vào mùa động dục, không hiểu cao hừng thế nào chú vùng vằng giật đứt cả dây thừng lao về phía làng tìm… trâu gái. Đứa trẻ 8 tuổi như tôi(chỉ đứng ngang bụng nó) dù có cố chạy với tốc độ của Phạm Đình Khánh Đoan cũng không sao theo kịp con trâu đực đang hăng máu. Trớ trêu hơn, khi đi được nửa quãng đường, thằng đực rựa lại hứng chí lao xuống đám mạ vừa mới sạ lăn lộn đến nát bét. Báo hại, bảo nông viên(lực lượng bảo vệ nông sản của hợp tác xã) Tứ sẹo đang đứng gần đó lập tức đã gọi tôi lại và thực thi một hình phạt có lẽ có một không hai trong đời mục đồng của tôi: Tứ sẹo bắt tôi quì trên bãi phân trâu mới ị còn nóng hổi và quất tới tấp bằng chiếc roi mây mà đến cả trâu cũng phải giật nảy mình. Tôi cắn môi đến bật máu vì đau và lớn hơn, vì nhục !

*

* *

Cũng vì quá túng quẫn mà chuyện học hành của tôi tưởng đã phải dở dang. Không đành lòng để tôi nghỉ học, mẹ đã gởi tôi vào ở nhà chú Tư ở Biên Hoà với hy vọng tôi có thể tiếp tục được đến trường, đồng thời hiện tại và sau này có cuộc sống dễ thở hơn. Nhưng không hiểu sao vào thời điểm đó, chú tôi lại có ý định gởi tôi theo học một khoá sửa xe đạp, xe máy ở nhà một người quen. Tất nhiên, tôi không đồng ý với kế hoạch ngoài dự kiến này và ngay hôm sau, tôi lập tức xuôi tàu chợ về lại quê hương. Khi thấy tôi trở về, mẹ xoa đầu tôi mà rân rấn nước mắt: “Thôi ở với má, có rau ăn rau, có cháo ăn cháo…”

Năm 1980, Nhà nước có chủ trương đưa dân đi các vùng kinh tế mới. Không chút đắn đo, mẹ tôi đăng ký đi ngay với hi vọng có thể đổi đời ở một vùng đất mà mình vẫn chưa rõ. Thế là vào một ngày mùa đông mưa phùn, rét đến cắt da cắt thịt, mẹ con tôi cùng với một số gia đình khác lên xe trực chỉ phương Nam với bao nhiêu cảm xúc ngổn ngang…

*

* *

Cho đến khi đặt chân đến Bình Phước, không ai hình dung được rằng đấy lại là vùng biên ải hoang sơ, rừng thiêng nước độc với một công việc hoàn toàn mới mẻ: công nhân cao su.

Dẫu sao, cuộc sống cũng thoải mái hơn, mọi người không còn ăn độn(vì đã có gạo của nông trường cấp, tuy có gãy vụn, đen đúa và nhiều bông cỏ) và quan trọng nhất đối với mẹ, tôi vẫn được tiếp tục đến trường. Tuy vậy, công việc lại hết sức nặng nhọc, độc hại và không phải ai cũng dễ thích nghi. 4 giờ sáng mọi người đã phải quảy thùng đục trên vai lên đường ra lô cao su cạo mủ cho đến tối mịt mới về tới nhà. Để khai thác cái thứ được mệnh danh là “vàng trắng” ấy, người công nhân cũng phải cực nhọc đủ điều. Vì phải ở trong rừng cao su từ sáng đến tối trong điều kiện thiếu ánh sáng, muỗi mòng như trấu mà nước da ai cũng trở nên mai mái, men mét. Cái nước da đặc trưng của người vùng miền Đông đất đỏ này còn là hệ quả của một căn bệnh hết sức phổ biến ở đây: sốt rét. Tôi đã từng chứng kiến cảnh mẹ run bắn lên thế nào khi lên cơn sốt, mặc dù đã phải đắp đến hàng chục tấm mền. Do đã từng trải qua nên tôi cũng không lạ với cái cảm giác hết sức khó chịu của căn bệnh này: lạnh trong xương lạnh ra, lạnh đến mức lồng lộn. Nhưng sốt thì mặc sốt, mẹ vẫn đều đặn đi làm, dù có dạo mẹ xanh như lá, đi đứng liêu xiêu như người gặp bão.

Có một mùa hè, để đỡ đần mẹ, tôi cũng quảy thùng đục ra lô cao su như một công nhân thực thụ. Và chỉ một tuần sau, tôi đã dính sốt rét, tuy có đỡ hơn vì chỉ là sốt cách nhật. Cứ cách một ngày và vào đúng giờ đó là tôi lại lên cơn đến mức trở nên quen thuộc. Chính vì vậy mà hễ cơ thể bắt đầu có triệu chứng là tôi rời thùng đục, chuẩn bị sẵn tấm nilon và trùm kín người lại… quằn quại bên gốc cao su. Những lúc như thế, thương tình, các chị công nhân cùng tổ lại giúp tôi cạo nốt các cây còn lại, phụ trút mủ, đong mủ khi xe đến…

*

* *

Những năm tháng khó nhọc rồi cũng đi qua. Hôm tôi trúng tuyển vào đại học (cũng là người đầu tiên của huyện miền núi này vào được đại học), mẹ cứ ôm chặt lấy tôi mà rưng rức. Tôi hiểu mẹ vui và xúc động đến nhường nào, nhưng cũng không thể không lo lắng. Ngày tôi lên đường nhập học, mẹ đã phải bấm bụng bán đi một chiếc giường gỗ, một chiếc xe đạp và cả con heo đang lớn mới tạm đủ chi phí cho tôi trong những tháng đầu ở ĐH. Tất nhiên suốt 4 năm ở giảng đường ĐH, mẹ cũng đã phải chạy vạy, đắp đổi muôn phương ngàn kế mới đảm bảo cho tôi đi hết thời sinh viên. Cứ mỗi lần tôi về nhà, sau thoáng mừng vui là mẹ lại tỏ ra đăm chiêu, bồn chồn…Mẹ đã phải chạy vạy đầu này vay mượn đầu kia mới có được món tiền cho con ngày mai trở lại trường. Thậm chí, sau này tôi mới biết để có được những đồng tiền ấy cho tôi, mẹ phải nhận lãnh làm thuê rẫy cỏ hay hái cà phê cho nhiều nhà khác nhau, mặc dù tuổi đã cao sức đã yếu.

Mẹ tôi vẫn thế, vẫn lặng lẽ hi sinh vì con với tâm niệm một đời mong con thành đạt, nên người. Bây giờ, nếu tôi có được chút gì đó với đời thì đó cũng là nhờ công lao trời bể của mẹ. Không thể khác.

(Tháng 3-2007)

 

Có mộ phản hồi

  1. HI anh , em doc 1 mach ..va ..chi biet ..kêu lên ” Thuong Me và anh ” thuong dan Vn minh lam lu

Để lại hồi âm